728x90 AdSpace

Latest News

Được tạo bởi Blogger.

Recent

About Me

Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Khoa Học Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Khoa Học Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Lịch sử Triết học Trung Quốc - Phùng Hữu Lan - Tập 1+2

Lịch sử triết học Trung Quốc Tập 1 + 2
Tác giả: Phùng Hữu Lan
NXB Khoa Học Xã Hội 2006

Số trang: 562 + 808


Lời tựa:


Mặc dù những phát minh hiện đại thời nay đang giúp con người xích lại gần nhau hơn, nhưng thực sự vẫn còn đó những rào cản về tri thức khiến con người cũng như các dân tộc chưa thể hiểu biết được lẫn nhau. Hiện nay, như ta rất thường thấy trong lịch sử thế giới, sự phát triển về giao tiếp vật chất đã vượt lên trước sự phát triển về giao tiếp trí tuệ; và chính trong thời đại mà các phương thức truyền thông phát triển nhanh như hiện nay thì việc hiểu biết và thông cảm giữa các dân tộc càng cần phải được quan tâm thực hiện.

Người ta luôn nghe những lời lẽ (thậm chí do các đại học giả phương Tây nói) đại loại như: “Thời Hôn Ám ở Âu Châu đã đẩy thế giới đến một trình độ văn hoá thấp nhất.” Nói như vậy là không biết rằng: cùng lúc với thời Hôn Ám ở Âu Châu, một nền văn hoá rực rỡ huy hoàng của nhân loại đang xảy ra dưới đời Đường tại Trung Quốc, và quyển sách đầu tiên của thế giới đã được in ra tại vương quốc này trong thế kỷ IX. Rất nhiều người chúng ta ở phương Tây đã có cái nhìn mà Trang Tử bảo là “ếch ngồi đáy giếng” (well-frog), tức là xem cả thế giới lớn bằng cái vòm trời qua miệng giếng. Khi đa số chúng ta cho rằng cái di sản văn hoá Hi Lạp và La Mã vẫn là tiêu biểu của thế giới, thì khoa học so sánh các nền văn minh càng cần thiết hơn bao giờ hết, không chỉ để hiểu được các nền văn hoá nước ngoài mà còn để hiểu chính nền văn hoá của chúng ta, ngõ hầu chúng ta có sự đánh giá khách quan.

Chính vì các nguyên do đó mà bản dịch Anh ngữ này ra đời, với niềm hy vọng rằng nó sẽ giúp phương Tây thấy được một học giả Trung Quốc vốn được đào tạo theo kiểu phương Tây đã nhận định thế nào về nền triết học của chính đất nước của ông. Đây là bản dịch của Trung Quốc Triết Học Sử, của Tiến sĩ Phùng Hữu Lan, tốt nghiệp Đại học Columbia (Mỹ) và hiện (1937) giảng dạy triết học tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Quyển I bao quát thời đại Tử Học, một thời đại có thể nói là rực rỡ nhất trong triết học Trung Quốc, trải dài từ thời xa xưa đến khoảng năm 100 TCN, khi mà Nho giáo chiếm địa vị chính thống. Trong các tác phẩm viết về thời kỳ này, bộ sách của Phùng Hữu Lan hẳn là hoàn bị nhất, và trong nhiều phương diện, người ta có thể hy vọng đây là một trong những bộ sách tốt nhất. Quyển II nối tiếp lịch sử triết học Trung Quốc, từ cuối thời đại Tử Học cho đến hiện nay.

Chúng ta cần chú ý rằng tác giả đã trích dẫn rất nhiều đoạn cổ văn từ các nguồn thư tịch gốc. Việc này khiến tác phẩm của ông không những là một sách tham khảo quý báu về các văn bản gốc của triết học Trung Quốc, mà còn tạo sự thuận lợi bởi vì nó để cho các văn bản cổ xưa tự lên tiếng. Đó là một điều rất quan trọng trong một lĩnh vực như triết học Trung Quốc, khi một văn bản thường có nhiều lời bình chú. Khi chuyển các đoạn văn trích này sang Anh ngữ, tôi cố bám vào nguyên tác, đồng thời cũng tham bác các bản dịch có sẵn bằng các ngôn ngữ phương Tây. Để thuận tiện, tôi đưa vào các ghi chú tham khảo, và tôi hiếm khi chấp nhận các lời dịch đó mà không có sự điều chỉnh của chính mình, ngõ hầu bản dịch của tôi được chính xác hơn

Các nhà nghiên cứu lịch sử triết học Tây phương thường phân chia lịch sử triết học Tây phương làm ba thời kỳ: Thượng cổ, trung cổ, và cận đại. Điều ấy chẳng phải là một sự phân biệt tuỳ ý, bởi vì trong lịch sử triết học Tây phương mỗi thời kỳ quả thực đều có tinh thần đặc biệt và diện mục đặc thù của nó. Tương tự, lịch sử triết học Trung Quốc nếu chỉ chú ý về phương diện thời kỳ, thì cũng có thể phân chia làm ba thời kỳ: Thượng cổ, trung cổ, và cận đại. Mỗi thời kỳ đều có một nền triết học riêng, nên cũng có thể lấy “thượng cổ, trung cổ, và cận đại” để đặt tên cho chúng. Những danh xưng này cũng được dùng trong quyển sách này. Nhưng từ một phương diện khác mà nói, Trung Quốc quả thực chỉ có triết học thượng cổ và triết học trung cổ, chứ không có triết học cận đại.

Nói rằng Trung Quốc không có triết học cận đại, thì nó không có nghĩa rằng trong thời cận đại Trung Quốc không có triết học. Tuy nhiên, nó nêu ra một sự khác biệt quan trọng giữa Trung Quốc và Tây phương. Trong lịch sử triết học Tây phương, cái gọi là triết học trung cổ và triết học cận đại ngoài sự bất đồng về thời đại phát sinh còn có sự khác biệt rất rõ ràng về tinh thần và diện mục của chúng. Trong lịch sử triết học Tây phương, các hệ thống triết học được thành lập do các triết gia như Plato, Aristotle, v.v... vốn là cốt lõi của nền triết học thượng cổ của họ. Triết học trung cổ phần lớn đã chuyển mình trong các hệ thống này. Trong nền triết học trung cổ ấy có những thành phần mới thuộc về nhân sinh quan và vũ trụ quan của Thiên Chúa giáo. Các triết gia thời ấy cũng không phải là không thường có kiến giải mới, nhưng những thành phần mới và những kiến giải mới này cũng dựa vào các hệ thống triết học cổ đại, dùng những thuật ngữ của triết học cổ đại để diễn đạt. Bình cũ không thể chứa rượu mới. Trong triết học trung cổ của Tây phương không phải hoàn toàn không có rượu mới, nhưng vì lượng rượu mới này không nhiều hoặc vì nó không quá mới, cho nên nó có thể chứa được trong cái bình cũ của triết học cổ đại. Đến thời hiện đại, tư tưởng con người hoàn toàn biến đổi, các tân triết gia đều trực tiếp quan sát sự thực. Triết học của họ không dựa theo xưa và các thuật ngữ họ dùng phần lớn là tân tạo. Nói cách khác, rượu mới vừa nhiều vừa mới nên cái bình cũ không thể chứa nổi. Cái bình cũ bị phá vỡ và cái bình mới đã thay thế. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng trong lịch sử triết học Tây phương cái gọi là triết học trung cổ và triết học cận đại ngoài sự bất đồng về thời đại phát sinh còn có sự khác biệt rất rõ ràng về tinh thần và diện mục của chúng.


Giới thiệu:
Tiến sĩ Phùng Hữu Lan (1895-1990) - tốt nghiệp Đại học Columbia (Mỹ) 1924 - rực sáng cuối thế kỷ XX như là một sử gia lỗi lạc về triết học Trung Quốc kiêm triết gia hiện đại mà hệ thống triết học của ông hiện nay được nghiên cứu sâu rộng với danh xưng “Phùng học”.

Từ khi chào đời, bộ TRUNG QUỐC TRIẾT HỌC SỬ (quyển I, 1931; quyển II, 1934) của Phùng Hữu Lan đã trở thành sách giáo khoa trọng yếu của bậc đại học và cũng là tác phẩm kinh điển trong lĩnh vực lịch sử triết học Trung Quốc, chiếm địa vị quan trọng không chỉ tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (với nguyên tác Hán Ngữ), mà còn ở phương Tây nữa (với bản dịch Anh ngữ của Derk Bodde).

Quyển I bao quát thời đại Tử Học, một thời đại có thể nói là rực rỡ nhất của triết học Trung Quốc, trải dài từ thời xa xưa đến khoảng năm 100 TCN với địa vị chính thống của Nho giáo. Quyển II bao quát thời đại Kinh Học, tức là từ cuối thời đại Tử Học cho đến cuối đời Thanh.

Nguyên tác trích dẫn rất nhiều đoạn cổ văn từ các nguồn thư tịch gốc, khiến nó không những là một sách tham khảo quý báu về các văn bản gốc của Triết học Trung Quốc, mà còn tạo sự thuận lợi vì các văn bản cổ xưa đã tự lên tiếng. Đó là một điều rất quan trọng trong một lĩnh vực như triết học Trung Quốc, vì một văn bản thường có nhiều lời bình chú. Tác giả đã vận dụng vốn tri thức và phương pháp luận thu nhận thêm từ phương Tây vào việc nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc, do đó bộ sách này có tính khoa học rất cao. Học giả Lý Thận của Trung Quốc hiện nay nhận định chung về Phùng Hữu Lan bằng tám chữ “Dung quán Trung Tây, thông thích kim cổ” (dung hòa thấu triệt hai nền học thuật Trung Quốc và phương Tây, giải thích thông suốt việc xưa nay) và cho rằng nếu người Trung Quốc biết đến học thuật của phương Tây nhờ Nghiêm Phục, thì người ngoại quốc hiểu được triết học Trung Quốc là nhờ Phùng Hữu Lan.

TRUNG QUỐC TRIẾT HỌC SỬ của Phùng Hữu Lan đến nay mới được dịch ra tiếng Việt. Bản dịch bảo lưu các trích dẫn kinh điển y như nguyên tác, kèm phiên âm Hán Việt, lại còn có thêm rất nhiều chú thích tỉ mỉ như dồn nèn thông tin. Do đó độc giả đang có trên tay một nguồn tham khảo rất hệ thống và thiết yếu về tư tưởng triết học Trung Quốc.

Mục lục
Quyển 1: Thời đại Tử Học

Lời tựa của dịch giả Derk Bodde

Lời tựa của bản dịch Việt ngữ

Biển rộng trời cao ta vút bay

Chương 1. Mở đầu

Chương dẫn nhập (Chương 1 rút gọn của dịch giả derk bodde)

Chương 2. Phiếm luận thời đại Tử học

Chương 3. Tư tưởng và tôn giáo trước thời Khổng Tử

Chương 4. Khổng Tử và khởi nguyên của Nho gia

Chương 5. Mặc Tử và Mặc gia thời kỳ đầu

Chương 6. Mạnh Tử và Mạnh học

Chương 7. Cái học Bách gia thời Chiến Quốc

Chương 8. Lão Tử và Lão học trong Đạo gia

Chương 9. Huệ Thi, Công Tôn Long, và các biện giả khác

Chương 10. Trang Tử và Trang học trong Đạo gia

Chương 11. Mặc kinh và các Mặc gia về sau

Chương 12. Tuân Tử và Tuân học trong Nho gia

Chương 13. Hàn Phi Tử và các pháp gia khác

Chương 14. Nho gia đời Tần và đời Hán

Chương 15. Vũ trụ luận trong Dịch truyện và sách Hoài Nam Hồng Liệt

Chương 16. Lục nghệ của Nho gia và sự độc tôn của Nho gia

Niên biểu thời đại Tử học

Quyển 2: Thời đại Kinh Học

Chương 1: Phiếm luận về thời đại Kinh học

Chương 2: Đổng Trọng Thư và Kinh học Kim Văn

Chương 3: Cái học sấm vĩ và tượng số giữa hai đời hán

Chương 4: Kinh học cổ văn và Dương Hùng, Vương Sung


Download Lịch sử Triết học Trung Quốc - Phùng Hữu Lan Tập 1. PDF

Download Lịch sử Triết học Trung Quốc - Phùng Hữu Lan Tập 2. PDF

Xem hướng dẫn download tại đây

P.S.: Tất cả các ebook và audio book post ở TSCB đều có tải về máy cả. Nếu có links nào bị hỏnig, các bạn làm ơn thông báo cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ upload links mới post lên lại. Nhớ like và share Facebook ủng hộ chúng tôi nhé. Thanks các bạn nhiều nha.


MUA SÁCH GIẤY

Hotline: 0967 841 705 (Zalo và Viber)
Email: noluckhongngung@gmail.com
 

36 Kế & 36 Đối Kế - Hầu Gia

36 Kế & 36 Đối Kế - 72 phép xử lý khó khăn trong Kinh doanh và Cuộc sống
Tác giả: Hầu Gia
NXB Khoa Học Xã Hội, 2001
256 trang

Với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, sự tồn tại hay suy vong của mỗi người, mỗi tổ chức đều phụ thuộc rất lớn vào việc chúng ta có đủ sức cạnh tranh và hợp tác mang tính chất toàn cầu hay không. Để cạnh tranh, hợp tác hoặc phòng vệ, tất nhiên chúng ta cần phải có những phương tiện, vũ khí mạnh. Trong các loại phương tiện, vũ khí, có một loại đặc biệt lợi hại, đó là “kế".

Từ nghìn xưa, con người luôn luôn đi tìm những công cụ, những vũ khí tư duy mạnh để cạnh tranh và hợp tác sinh tồn, đặc biệt là kế. Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu kế đã phát triển từ thời Tần - Hán. “Hàn Phi Tử” thiên về chính trị, “Tôn Tử binh pháp” thiên về quân sự, “Quỷ Cốc Tử” nặng về mưu kế ngoại giao... về sau, càng nhiều người nghiên cứu đủ loại, đã có 1.465 thiên sách nghiên cứu có liên quan đến mưu kế. Nhiều tác phẩm đáng chú ý như Tam thập lục kế (36 kế), Bách chiến kỳ lược, Trí nang... Trong đó, lưu truyền rộng rãi nhất hiện nay ở Trung Quốc và các nước là Tam thập lục kế.

Kế được định nghĩa là “cách khôn khéo được nghĩ ra để giải quyết một vấn đề khó khăn nào đó”. Kế là biện pháp, là cách thức, là kỹ năng giải quyết vấn dề. Tuy nhiên, kế khác với các biện pháp thông thường ở ba điểm chủ yếu :

* Thứ nhất, kế thường được tiến hành một cách chủ động, bí mật, bất ngờ.
* Thứ hai, kế thường được dùng ít thắng nhiều, dùng yếu thắng mạnh.
* Thứ ba, kế được dùng để giải quyết các tình huống khó khăn.

Như vậy, nói nôm na, kế là những biện pháp đặc biệt để giải quyết các tình huống khó khăn.

Điều mới lạ và ích lợi của hệ thống “36 Kế và 36 Đối Kế “ được trình bày ở đây là:

Đối Kế:

Mỗi kế đều có đối kế, ví dụ có ”Khổ nhục kế“ thì có “Phú quý kế“ có “Giương đông kích tây“ thì cũng có “Gương đông kích đông", có "Thái cực kế” thì cũng có “Lưỡng cực kế”...

Điều này nghiệm đúng điều người xưa nói "thái cực gặp nhau" cũng như trong kỹ thuật điện, đã có hiện tượng siêu dẫn khi làm nóng vật dẫn đến một nhiệt độ thích hợp thì cũng có hiện tượng siêu dẫn khi làm lạnh vật dẫn đến một nhiệt độ thích hợp. Cũng ví như để các kẻ ác tự tiêu diệt lẫn nhau, trước đây ai cũng nghĩ đến “ly gián kế", chia rẽ đối thủ, nhưng ít người nghĩ đến có những trường hợp cần kết hợp các đối thủ lại, dùng “liên kết kế” làm cho họ gần nhau hơn, để từ đó mà mâu thuẩn xuất hiện, chúng tự diệt nhau, gọi là “xua sói cho hổ nuốt".

Sự mới lạ của đối kế, điều mà hệ thống 36 kế cũ không có, đã góp phần giúp cho tư duy con người được mở rộng, hạn chế sự phiến diện một chiều .

Phong phú :

Nội dung của 72 kế đã bao gồm nhiều lĩnh vực của xã hội loài người như kinh tế, chính trị, quân sự... với đầy đủ mọi mưu kế điển hình từ xưa đến nay, được đúc kết có tính đến hướng phát triển trong tương lai xa. Có rất nhiều kế mà hệ thống 36 kế cũ không có như "Thả mồi bắt bóng”, “Thả bóng bắt mồi”, “Đảo kế“, “Đồng kế”,...

Các mưu kế đã được sấp xếp theo một hệ thống hợp lý, những kế “con” nhưng quan trọng cũng được xếp riêng thành một kế, nhưng mặt khác nhau của một kế nếu quan trọng cũng được xếp riêng thành một kế khác.

Điều mới lạ về tính đầy đủ của hệ thống là một trong những phương tiện giúp cho con người giải quyết mọi vấn đề khó khăn trong cuộc sống.

Tư tưởng :

Giá trị tư tưởng của từng kế được nêu bật thông qua định nghĩa, đó là điều mà hệ thống 36 kế cũ không rõ. Hệ thống 36 kế cũ chủ yếu dùng trong quân sự “Tá đao sát nhân ” (Mượn đao giết người ), “Sấn hỏa đả kiếp ” (Thừa lúc nhà người ta cháy mà cướp). Ý tưởng trong hệ thống mới được mở rộng và hoàn toàn mới lạ, phù hợp với đạo đức, với xã hội đương đại, và xã hội trong tương lai. Ví dụ: “Phản tương kế tựu kế”, ”Vô kế”...

Giá trị chủ yếu của hệ thống được biểu hiện ở phần định nghĩa. Nội dung tư tưởng của từng định nghĩa trong một hệ thống hợp lý đã góp phần giúp con người mở rộng vô hạn cách đặt vấn đề cũng như vô hạn các giải pháp.

Mục Lục :

Kế 1. Thả bóng bắt mồi
Kế 2. Thả mồi bắt bóng
Kế 3. Phú quý kế
Kế 4. Khổ nhục kế
Kế 5. Thả tép bắt tôm
Kế 6. Thả tôm bắt tép
Kế 7. Kích tướng kế
Kế 8. Hàn tướng kế
Kế 9. Rung cây dọa khỉ
Kế 10. Trồng cây dụ khỉ
Kế 11. Mỹ nhân kế
Kế 12. Nam nhân kế
Kế 13. Thừa gió bẻ măng
Kế 14. Tạo gió bẻ măng
Kế 15. Thừa nước đục thả câu
Kế 16. Tạo nước đục thả câu
Kế 17. Thuận tay dắt bò
Kế 18. Nghịch tay dắt bò
Kế 19. Giả yếu chế mạnh
Kế 20. Giả mạnh chế yếu
Kế 21. Biết mà giả là không biết
Kế 22. Không biết mà giả là biết
Kế 23. Giương đông kích tây
Kế 24. Giương đông kích đông
Kế 25. Du long chuyển phượng
Kế 26. Du phượng chuyển long
Kế 27. Xuất khách vi chủ
Kế 28. Xuất chủ vi khách
Kế 29. Quýt làm cam chịu
Kế 30. Quýt làm quýt chịu
Kế 31. Muốn bắt mà lại thả
Kế 32. Muốn thả mà lại bắt
Kế 33. Ve sầu thoát xác
Kế 34. Ve sầu nhập xác
Kế 35. Tấn kế
Kế 36. Tẩu kế
Kế 37. Bớt củi dưới nồi
Kế 38. Thêm củi dưới nồi
Kế 39. Điệu hổ ly sơn
Kế 40. Điệu hổ ly sơn
Kế 41. Ly gián kế
Kế 42. Liên kết kế
Kế 43. Một mũi tên hai con nhạn
Kế 44. Hai mũi tên một con nhạn
Kế 45. Mượn đầu heo nấu cháo
Kế 46. Mượn cháo luộc đầu heo
Kế 47. Qua sông phá cầu
Kế 48. Qua sông giữ cầu
Kế 49. Hoãn binh kế
Kế 50. Hoãn tịnh kê
Kế 51. Lấy khỏe đánh mệt
Kế 52. Lấy mệt đánh khỏe
Kế 53. Bất tướng kế
Kế 54. Bắt quân kế
Kế 55. Hỏa mù kế
Kế 56. Hỏa châu kế
Kế 57. Di thi kế
Kế 58. Di ngôn kế
Kế 59. Gián kế
Kế 60. Phản gián kê
Kế 61. Đảo kế
Kế 62. Đồng kê
Kế 63. Thái cực kế
Kế 64. Lưỡng cực kê
Kế 65. Tương kế tựu kế
Kế 66. Phản tương kế tựu kệ
Kế 67. Liên hoàn kế
Kế 68. Đơn kế
Kế 69. Định kế
Kế 70. Biến kế
Kế 71. Hữu kế
Kế 72. Vô kế


Nghe online:

Xin mời các bạn download Audiobook 36 Kế & 36 Đối Kế - Hầu Gia (MP3)

Xin mời các bạn download Ebook 
36 Kế & 36 Đối Kế - Hầu Gia (PDF) 

Xem hướng dẫn download tại đây

P.S.: Tất cả các Ebook và Audiobook post ở TSCB đều có tải về máy cả. Nếu có links nào bị hỏng, các bạn làm ơn thông báo cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ upload links mới post lên lại. Nhớ like Facebook ủng hộ chúng tôi nhé. Thanks các bạn nhiều nha.

MUA SÁCH GIẤY


Giá: 299.000 vnđ

Hotline: 0967 841 705 (Zalo và Viber)
Email: noluckhongngung@gmail.com

Slider

Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Khoa Học Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Khoa Học Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016
Lịch sử Triết học Trung Quốc - Phùng Hữu Lan - Tập 1+2

Lịch sử Triết học Trung Quốc - Phùng Hữu Lan - Tập 1+2

Lịch sử triết học Trung Quốc Tập 1 + 2 Tác giả: Phùng Hữu Lan NXB Khoa Học Xã Hội 2006 Số trang: 562 + 808 Lời tựa: Mặc dù những phát m...
Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014
Top